Cuốn sách này được đánh giá như một bức tranh toàn cảnh về chính sách thương mại quốc tế ngày nay, giúp các nước đang phát triển có thêm cơ sở lý luận trong quá trình hoạch định chiến lược phù hợp nhất với điều kiện cụ thể từng nước khi tham gia các cuộc đàm phán Khu vực thương mại tự do.
Tô Xuân Dân; Nguyễn Thành Công đồng chủ biên.- H.: Chính trị quốc gia, 2006.- 474tr.
Chúng ta đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về tác động của quá trình toàn cầu hoá kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt nam, nhưng đây là công trình nghiên cứu một cách toàn diện nhất về tác động của hội nhập kinh tế đối với tư duy, nhận thức và đời sống kinh tế - xã hội ở Việt Nam.
Viện Kinh tế và chính trị thế giới.- H.: NXB Thế giới, 2006.-256tr.
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu quá trình Trung Quốc đàm phán gia nhập WTO cam go, kéo dài hơn 15 năm, dài nhất trong lịch sử của WTO, với rất nhiều khó khăn, trắc trở ở bên trong lẫn bên ngoài. Cuốn sách này chỉ tập trung nghiên cứu những tác động thực tế từ sau khi gia nhậpWTO của Trung Quốc trên ba mặt chính: Cải cách chính phủ, Cải cách thể chế, cải cách doanh nghiệp, từ đó nêu lên nhận xét và khuyến nghị.
Lưu Ngọc Trịnh chủ biên - NXB Lao động xã hội. 2006 - 401 trang.
Có bẩy lý do được đưa ra trong cuốn sách này khi phân tích việc khu vực Đông Á (gồm Đông Bắc Á và Đông Nam Á) từ chỗ được coi là khoảng trống của liên kết khu vực, chậm chân trong làn sóng hội nhập kinh tế khu vực so với Tây Âu và Bắc Mỹ vào những năm 1970-1980, trong những năm gần đây đang có những chuyển biến khá mạnh theo hướng tăng cường liên kết kinh tế khu vực với hàng loạt thoả thuận thương mại tự do khu vực và song phương. Nổi bật nhất là Hiệp định mậu dịch tự do Nhật Bản - ASEAN, Hiệp định mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN, Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện Nhật Bản - Singapore…
Hồ Châu; Nguyễn Hoàng Giáp; Nguyễn Thị Quế đồng chủ biên - NXB Lý luận chính trị 2006- 179 trang.
Việc các nước thành viên ASEAN và Trung Quốc đã ký “Hiệp định khung hợp tác kinh tế toàn diện” vào tháng 04/11/2002 tại Phnôm Pênh, Campuchia đã mở đường cho việc thiết lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc (ACFTA) trong những năm tới. Hiệp định này cũng làm dấy lên cuộc chạy đua chuẩn bị ký kết Hiệp định thương mại của nhiều đối tác với ASEAN, đồng thời cũng đặt hai bên trước những thách thức không nhỏ. Điều này đòi hỏi ASEAN, trong đó có Việt Nam, phải nhận thức đầy đủ về thế mạnh, những thuận lợi cũng như thách thức nhằm tận dụng thời cơ, khắc phục nhược điểm để phát triển.
Viện nghiên cứu Trung Quốc - NXB Khoa học xã hội 2005 - 347 trang.
Việc Trung Quốc gia nhập WTO được đánh giá là một trong 100 sự kiện lớn trong lịch sử 5000 năm của Trung Quốc, sánh ngang với việc nước này thử nghiệm thành công vũ khí hạt nhân vào năm 1964. Trải qua quá trình đàm phán kéo dài 15 năm (dài nhất trong lịch sử WTO) với nhiều khó khăn cả bên trong lẫn bên ngoài nhưng là sự thể hiện thành công quyết sách của Trung Quốc. Những bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo trong quá trình chuẩn bị đàm phán và đối sách sau khi gia nhập WTO. Những tác động của việc gia nhập WTO đối với các lĩnh vực kinh tế và đối sách của Trung quốc.
Economic cooperation between Vietnam and the republic of Korea in THE EAST ASIAN intergration): sách song ngữ Việt – Anh / Viện khoa học xã hội Việt nam - NXB Khoa học xã hội, 2005 - 559 trang.
Sách tập hợp các bài tham luận của những nhà kinh tế, giảng viên, học giả, nhà nghiên cứu của Việt Nam và Hàn Quốc tại hội thảo "Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc trong bối cảnh hội nhập Đông Á" tổ chức ngày 16/12/2004 tại Bắc Ninh nhân dịp kỷ niệm 12 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt - Hàn (1992)
Sách khái quát về tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam và kinh nghiệm của một số nước đi trước, cũng như các nước có hoàn cảnh gần với Việt Nam như Campuchia, Trung Quốc, Samoa, Tonga. Những thuận lợi khi là thành viên của WTO như: thuế nhập khẩu đối với hàng Việt Nam ở nước ngoài giảm, nới bỏ hạn ngạch(quota) đối với hàng xuất khẩu, đầu tư nước ngoài tăng hơn...cũng như việc phải đối mặt với hàng loạt vấn đề khó khăn: mối đe dọa đối các ngành sản xuất trong nước chưa đủ sức cạnh tranh; việc hạ thấp thuế quan ảnh hưởng nguồn thu ngân sách... đã được đề cập đến theo những quan điểm riêng của tác giả./.
Nguyễn Thanh Bình.- H.: Laođộng xã hội, 2005.-335tr
Chính sách sản phẩm của mỗi doanh nghiệp Việt Nam nói chung và Chính sách sản phẩm trong marketing xuất khẩu của doanh nghiệp nói riêng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn Nhà nước Việt Nam cũng như cộng đồng doanh nghiệp đang tích cực hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới. Chính sách này không chỉ nhằm phù hợp và thoả mãn người tiêu dùng Quốc gia, mà còn phải phù hợp với các tiêu chuẩn, quy định của chính sách sản phẩm nhập khẩu trên thị trường khu vực, thế giới, đặc biệt là liên minh châu Âu (EU) - một trong ba trụ cột kinh tế thế giới - thị trường "khó tính" bởi yêu cầu cao của người tiêu dùng.
Để giải quyết câu hỏi “Trong tương lai, ASEAN phải hành động như thế nào để tồn tại như một khối liên kết khu vực?”, Tác giả đã lấy mốc là cuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính năm 1997 để phân tích các giai đoạn phát triển kinh tế ASEAN trước và sau 1997.
Nguyễn Văn Thường chủ biên.- H.: Lý luận chính trị, 2005.- 227tr.
Tăng trưởng kinh tế đang là đề tài nóng bỏng gây sự chú ý của toàn dân Việt Nam. Ước mơ trở thành một trong những con rồng của châu Á, để "sánh vai các cường quốc năm châu" đang có dấu hiệu trở thành hiện thực. Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được trong phát triển kinh tế, Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn và thách thức. Tiềm lực tăng trưởng của đất nước chưa được khai thác có hiệu quả. Các tác giả của cuốn sách đã cố gắng chỉ ra những "rào cản" của nền tế Việt Nam bao gồm: chất lượng tăng trưởng, đầu tư, xuất khẩu, hội nhập kinh tế quốc tế (gia nhập WTO), môi trường pháp luật, môi trường sinh thái, vốn, đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Tám "rào cản" nêu trên ứng với 8 phần của cuốn sách.
Viện nghiên cứu thương mại .- H.: Chính trị quốc gia, 2004.-269tr.
Một trong những cơ hội và cũng là thách thức lớn nhất đối với việc đẩymạnh xuất khẩu của Việt Nam hiện nay là: tuân thủ các quy định rất nghiêm ngặt về thương mại và môi trường, đặc biệt củacác nước phát triển (cũng là đối tác thương mại lớn nhất trên thị trường) như Mỹ, Nhật Bản, EU.
Viện kinh tế và chính trị thế giới.- H.: NXB thế giới, 2004.- 514tr.
Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, Liên minh châu Âu (EU) và Khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) gồm 3 nước Canada, Mỹ, Mehicô đã trở thành các liên kết kinh tế khu vực phát triển mạnh trên mọi phương diện. Vấn đề được đặt ra là: liệu các nền kinh tế Đông Á có thể xây dựng một khu vực thương mại tự do toàn Đông Á (EAFTA), rồi tiến tới có một đồng tiền chung, một thị trường chung, một môi trường đầu tư chung hay không?
Viện kinh tế và chính trị thế giới.- H.: Thế giới, 2005.- 943tr.
Phân tích quá trình toàn cầu hoá dưới góc cạnh đa chiều, vì toàn cầu hoá tác động toàn diện tới các quốc gia, các nền kinh tế trong quá trình chuyển đổi và phát triển. Nội dung sách đề cập từ khía cạnh chính trị như phân cực về mặt xã hội, tham nhũng, quyền lực của pháp luật cho đến lý thuyết kinh tế hiện đại, chính sách tiền tệ, mô hìnhkhủng hoảng....gồm 12 bài viết tuyển chọn của những nhà kinh tế thế giới, chiatheo hai chủ đề:
Ngân hàng thế giới.- H.: Chính trị Quốc gia, 2004.- 613tr.
Sách đề cập trên diện rộng những vấn đề cơ bản liên quan đến thương mại và phát triển, được chọn lọc và dịch từ nguyên bản “ Development, trade, and the WTO” của Ngân hàng thế giới, gồm 8 chương: