TÁC ĐỘNG CỦA KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO
ASEAN-TRUNG QUỐC (ACFTA)
Chỉ đạo nghiên cứu
Lương Văn Tự
Tổng Thư kí UBQG-HTKTQT, Thứ trưởng Thương mại


Chủ nhiệm đề tài
Trần Trung Thực
Phó Chánh Văn phòng UBQG-HTKTQT

Thư kí đề tài
Đỗ Cẩm Thơ

Cán bộ đề tài
Nguyễn Thuý Hạnh
   
 
  Lời nói đầu
CÁC CHUYÊN GIA
   NGHIÊN CỨU VÀ PHẢN BIỆN
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
   SỬ DỤNG TRONG SÁCH
TỰ DO HÓA
   THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA
TỰ DO HÓA
   THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ
TỰ DO HÓA ĐẦU TƯ

Tải xuống toàn bộ nội dung
Tải xuống toàn bộ nội dung

 

 


  LỜI GIỚI THIỆU

LỜI GIỚI THIỆU

Ngày 4 tháng 11 năm 2002, Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn diện giữa Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (dưới đây gọi tắt là Hiệp định khung) đã được lãnh đạo các nước ASEAN và Trung Quốc ký kết tại Phnom Penh, Campuchia tạo nền tảng pháp lý quan trọng để tăng cường hợp tác kinh tế nhiều mặt giữa ASEAN và Trung Quốc, trong đó quan trọng nhất là việc thiết lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) trong vòng 10 năm.

Hiệp định khung có mục tiêu:

-    Củng cố và tăng cường hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư giữa các quốc gia tham gia ký kết;

-    Tự do hóa từng bước và khuyến khích thương mại hàng hóa và dịch vụ cũng như tạo ra một cơ chế đầu tư minh bạch, tự do và thuận lợi;

-    Mở rộng các lĩnh vực mới và phát triển các biện pháp phù hợp để thúc đẩy hợp tác kinh tế gần gũi hơn giữa các Bên; và

-    Tạo điều kiện thuận lợi cho sự hội nhập kinh tế có hiệu quả hơn của các nước thành viên mới của ASEAN và thu hẹp khoảng cách phát triển kinh tế giữa các Bên.

Trên cơ sở Hiệp định khung, các nước ASEAN và Trung Quốc đã đàm phán và ký kết Hiệp định về Thương mại hàng hóa vào tháng 11 năm 2004 với những lộ trình cắt giảm thuế quan cụ thể để thành lập khu vực thương mại tự do đối với hàng hóa vào năm 2010. Với sự đối xử đặc biệt và khác biệt cũng như sự linh hoạt dành cho các nước thành viên mới của ASEAN, bao gồm Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam (gọi tắt là các nước CLMV) các nước ASEAN và Trung Quốc đã thỏa thuận lộ trình mở cửa chậm hơn cho các nước CLMV, theo đó Việt Nam được thực hiện chậm hơn 5 năm (2015).

Các Hiệp định về Thương mại dịch vụ và Đầu tư đang được ASEAN và Trung Quốc đàm phán với dự kiến là đến cuối năm 2006 sẽ hoàn tất các hiệp định khung về thương mại dịch vụ và đầu tư. Các cam kết cụ thể sẽ được các nước ASEAN và Trung Quốc tiếp tục thỏa thuận sau.

Để phục vụ việc xây dựng phương án đàm phán với Trung Quốc, Tổ công tác liên bộ về khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc đã tổ chức nghiên cứu “tác động của khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc đối với Việt Nam”. Nghiên cứu này được thực hiện qua 12 chuyên đề về cả 3 lĩnh vực thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và đầu tư. Đối với từng lĩnh vực, các chuyên đề đã tổng quan tình hình thực tế và các chính sách được áp dụng để từ đó đánh giá tác động của khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc tới nền kinh tế Việt Nam nói chung và một số lĩnh vực cụ thể nói riêng. Đối với thương mại dịch vụ và đầu tư, còn chưa kết thúc đàm phán, Nghiên cứu này đã đề xuất mô hình đàm phán về tự do hóa thương mại dịch vụ và dự kiến các cam kết Việt Nam có thể chấp nhận trong tự do hóa đầu tư.

Nghiên cứu này không chỉ là tài liệu tham khảo tốt đối với các cán bộ trực tiếp tham gia đàm phán và triển khai thực hiện các cam kết mà còn rất bổ ích cho các các bộ nghiên cứu cũng như các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực của Việt Nam, đặc biệt là trong việc triển khai các cam kết sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Ủy ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế xin chân thành cảm ơn Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam, Tổ chức ADETEF tại Việt Nam và các chuyên gia Pháp đã hỗ trợ cho việc thực hiện Nghiên cứu này.

PHÓ CHỦ TỊCH ỦY BAN QUỐC GIA

VỀ HỢP TÁC KINH TẾ QUỐC TẾ

BỘ TRƯỞNG BỘ THƯƠNG MẠI

 

Đã kí

 

Trương Đình Tuyển

2006 made by binhbl@mot.gov.vn